KÊ ĐƠN, BỐC THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN

Cách kê đơn bốc thuốc của thuốc nam Nguyễn Kiều tuân theo nguyên tắc biện chứng lập phương của y học cổ truyền từ ngàn đời nay,  tức là dựa vào tình trạng bệnh cụ thể của bệnh nhân để xây dựng phương thuốc điều trị, rồi kê đơn sau đó mới bốc thuốc cho bệnh nhân.

Sau đây, chúng tôi mô tả đơn giản lịch sử về thuốc y học cổ truyền và cách kê đơn bốc thuốc theo y học cổ truyền, cho người bệnh hiểu rõ hơn:

I.SƠ LƯỢC VỀ THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN

SƠ LƯỢC VỀ THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN
SƠ LƯỢC VỀ THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN

Thuốc y học cổ truyền gồm các loài thực vật, động vật, khoáng vật và một số chế phẩm hóa học…

Từ thời nguyên thủy, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn có khi ăn phải chất độc gây đi lỏng hoặc nôn mửa, hoặc hôn mê, có khi chết người. Theo thời gian, kinh nghiệm dần được tích lũy, không những giúp loài người lợi dụng được tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn biết dùng làm thuốc chữa bệnh, các loại thuốc từ thực vật, động vật ra đời từ đó. Các loại thuốc khoáng vật lại phát triển theo ngành khai thác mỏ như thạch cao, chu sa, hùng hoàng…

Mặt khác các lý luận triết học duy vật cổ đại ( thuyết âm dương, ngũ hành…) lại được các nhà y học cổ phương Đông vận dụng vào y học trong mọi lĩnh vực từ phòng bệnh đến chẩn trị, bào chế thuốc men, làm phong phú thêm cho kho tàng lý luận của y học cổ truyền.

Thuyết âm dương trong y dược:

Người xưa đã nhận thấy trong tất cả sự vật luôn có sự mâu thuẫn nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động biến hóa để phát sinh, phát triển và tiêu vong, gọi là Học thuyết âm dương.

Âm dương không phải là một thứ vật chất cụ thể nào mà là thuộc tính nằm trong tất cả mọi sự vật. Âm dương tuy đối lập, chế ước nhau nhưng phải nương tựa vào nhau mới tồn tại được. Âm dương luôn vận động không ngừng, âm tiêu, dương trưởng, tuy nhiên âm cực lại sinh dương, dương cực lại sinh âm. Tuy vậy âm dương lại luôn lặp lại được thế cân bằng. Trong cơ thể con người cũng vậy, khi âm dương cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh, còn khi âm dương mất cân bằng thì phát sinh ra bệnh tật. Ví dụ:

Âm dương thiên thịnh: phần lớn là thực chứng

  • Dương thịnh gây chứng thực nhiệt: sốt cao, khát, ra mồ hôi, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch sác.
  • Âm thịnh gây chứng thực hàn: chân tay lạnh, đau bụng, đại tiện lỏng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm.

Âm dương thiên suy: phần lớn là hư chứng

  • Dương hư là dương khí của cơ thể hư yếu (chứng hư hàn): sắc mặt trắng, sợ lạnh, chân tay lạnh, tự ra mồ hôi, mạch vi.
  • Âm hư là âm dịch của cơ thể không đầy đủ (chứng hư nhiệt): sốt từng cơn, ra mồ hôi trộm, lòng bàn chân tay nóng, miệng lưỡi khô, mạch vi sác.

Do đó để cơ thể khỏe mạnh cần giữ được sự nhịp điệu thăng bằng trong cơ thể , giữa con người và ngoại cảnh. Khi âm dương cơ thể mất cân bằng thì mượn khí vị, âm dương của các vị thuốc để lập lại sự cân bằng ấy. Thuốc y học cổ truyền đại khái chia làm tứ khí, ngũ vị và thăng, giáng, phù, trầm.

Tứ khí là:

  • Hàn (lạnh), lương (mát) thuộc âm
  • Nhiệt (nóng), ôn (ấm) thuộc dương.

Ngũ vị là:

  • Tân (cay), cam (ngọt), đạm (nhạt) thuộc dương
  • Toan (chua ), khổ (đắng) thuộc âm.

Trong khí vị lại chia làm hậu (nồng, đậm) và bạc (nhạt, nhẹ nhàng).

Xu hướng tác dụng của thuốc:

  • Thăng (đi lên), phù (phát tán ra ngoài) thuộc dương.
  • Giáng (đi xuống), trầm (thấm lợi vào trong và xuống dưới) thuộc âm.

Hiểu được quy luật này sẽ hiểu lý luận của dùng thuốc đông y.

Thuyết ngũ hành trong việc xét tính chất thuốc và dùng thuốc:

Thuyết ngũ hành là một học thuyết triết học, bao trùm mọi mặt vận động của vật chất trong vũ trụ, về căn bản thì cũng là một cách biểu thị luật mâu thuẫn và hỗ trợ nhau trong thuyết âm dương, tuy nhiên lại bổ sung cho thuyết âm dương hoàn chỉnh hơn. Theo đó, mọi vật chất trong vũ trụ đều do năm hành: “mộc, hỏa, thổ, kim, thủy” phối hợp với nhau mà tạo nên. Năm hành này quan hệ với nhau theo quy luật tương sinh (giúp đỡ nhau phát triển), tương khắc (khắc chế, kìm hãm nhau) và chế hóa lẫn nhau.

Căn cứ vào hình thái tính chất của từng bộ phận trong cơ thể, của từng vị thuốc, người xưa đã quy nạp các vị thuốc vào từng hành rồi vận dụng điều đó trong việc điều trị và tìm thuốc.

Thuyết ngũ hành trong việc xét tính chất thuốc và dùng thuốc:

Trong tìm thuốc, căn cứ vào mùi vị, màu sắc mà xét xem vị thuốc này có tác dụng lên bộ phận nào của cơ thể. Ví dụ một vị có vị cay, màu trắng sẽ tác dụng lên phế vì phế thuộc hành kim, màu trắng, vị cay; một vị có màu đỏ, vị đắng sẽ vào tâm vì tâm thuộc hỏa, màu đỏ, vị đắng…

Trong chế thuốc, cũng vận dụng ngũ hành. Ví dụ, muốn cho vị thuốc tác dụng vào tỳ vị thì tẩm với mật, hoặc sao vàng, vì màu vàng, vị ngọt thuộc hành thổ, mà tỳ vị cũng thuộc hành thổ; muốn thuốc vào thận thì thường chế với đậu đen, hoặc tẩm muối vì màu đen, vị mặn thuộc hành thủy, mà thận cũng thuộc hành này.

Trong việc điều trị, cũng vận dụng như vậy. Ví dụ: chảy máu, thổ huyết, huyết màu đỏ, thuộc hành hỏa, thủy khắc hỏa, do đó dùng thuốc hành thủy để chống hành hỏa, vậy thuốc cầm máu thường được đốt hay sao đen. Muốn bổ cơ thịt, bổ tỳ thì dùng thuốc có vị ngọt,màu vàng. Chữa bệnh phổi dùng các vị thuốc có vị cay như tinh dầu…

Trên đây là một số điều cơ bản về thuốc y học cổ truyền, để bàn kĩ hơn về thuốc còn rất nhiều vấn đề khác, hẹn gặp lại các bạn ở các bài viết tiếp theo.

II. Những phương pháp kê đơn thuốc đông y

Những phương pháp kê đơn thuốc đông y
Những phương pháp kê đơn thuốc đông y

Phương pháp cổ phương gia giảm

Đây là phương pháp bài thuốc đã được xác lập và ghi nhận kết quả từ lâu đời từ thế hệ này qua thế hệ khác và được ghi lại bằng sách kinh điển. Trong quá trình điều trị bệnh, thầy thuốc tăng thêm hoặc giảm vị thuốc sao cho phù hợp với tình hình thực tế của người bệnh.

Ưu điểm của phương pháp cổ phương gia giảm: mang đầy đủ tính chất lý pháp của Đông Y;

Nhược điểm: cứng nhắc bị lệ thuộc vào thuốc ngoại nhập, bài thuốc khó nhớ và khó vận dụng vào thực tế vì bệnh cảnh có thể thay đổi.

Phương pháp theo đối chứng trị liệu

Đây là phương pháp điều trị dựa vào triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân. Nên ưu điểm chính là rất đơn giản, không phải nhớ nhiều bài thuốc, thầy thuốc được linh hoạt trong việc vận dụng các vị thuốc.

Nhược điểm của phương pháp này chính là: nếu thầy thuốc chưa có nhiều kinh nghiệm, chỉ chạy theo triệu chứng làm mất tính cân đối trong lý pháp phương dược.

Phương pháp theo kinh nghiệm dân gian

Khác với  2 phương pháp trên đây là phương pháp chữa bệnh theo gia truyền đôi khi là truyền miệng, gặp ở dân tộc ít người. Vì thế mà rất dễ sử dụng và vận dụng được nam dược. Nhược điểm chính là không đảm bảo tính pháp lý của Đông Y.

Phương pháp theo toa căn bản

Dựa theo kinh nghiệm của quân dân y trong thời kháng chiến, ngoài sử dụng 10 -11 vị thuốc để nhuận tiểu, nhuận gan, nhuận tràng, nhuận huyết, giải độc cơ thể, kích thích tiêu hóa, khai khiếu. Còn bổ sung thêm vào toa căn bản thêm Quế chi, Tía tô, Hành, Kinh giới, Bạch chỉ.

Toa căn là phương pháp bốc thuốc YHCT đơn giản, thích hợp cho người mới học Đông y hoặc hiểu biết Đông y còn hạn chế nhất định.

Ưu điểm: dễ dàng sử dụng, vận dụng được nam dược mà không cần học nhiều.

Nhược điểm: dùng quá nhiều thuốc mà không thể hiên tính lý pháp của Đông y.

Phương pháp kê đơn theo dược lý tân y

Phương pháp này do Bùi Chí Hiếu Giáo sư dược lý học xây dựng dựa trên sự phát triển của khoa học hiện đại, thiết lập các toa thuốc điều trị có sử dụng thêm cơ sở dược lý Tây y

  • Ưu điểm của phương pháp: Thỏa mãn yêu cầu điều trị bằng đông y và bằng tây y. Đáp ứng từ pháp lý đến biện chứng của Đông y.
  • Nhược điểm: do kết hợp cả đông tây y nên đòi hỏi thầy thuốc phải có trình độ tinh thông về y lý, dược lý.

III. Cách kê đơn thuốc theo lý luận của y học cổ truyền

Cách kê đơn thuốc theo lý luận của y học cổ truyền
Cách kê đơn thuốc theo lý luận của y học cổ truyền

1.Nguyên tắc kê đơn thuốc:

Dựa trên những cơ sở phương pháp luận được tóm tắt như sau:

  • Căn cứ vào kết quả chẩn đoán bệnh thông qua tứ chẩn: “vọng”, “văn”, “vấn”, “thiết”, có thể tham khảo kết quả xét nghiệm, chụp chiếu (cận lâm sàng), rồi căn cứ vào bát cương (tám cương lĩnh trong luận trị).
  • Căn cứ vào tính dược của các vị thuốc, phương pháp phối ngũ giữa các vị thuốc và căn cứ vào sự tương ố (sự ghét nhau giữa các vị thuốc), tương uý (sự sợ nhau giữa các vị thuốc), tương kỵ (sự kỵ nhau giữa các vị thuốc), tương phản (sự phản nhau giữa các vị thuốc) để biện chứng và kê đơn thuốc.

Phương pháp kê đơn thuốc như trên gọi là: “Biện chứng lập phương” (tức là căn cứ theo chứng bệnh rồi dựa trên cơ sở trình độ, kiến thức y dược của mình mà xây dựng phương thuốc điều trị).

Đối với bệnh nhân có nhiều chứng bệnh thì thường là kê đơn chữa bệnh chính mang tính nguy cấp trước, rồi lần lượt chữa các chứng bệnh còn lại. Với thầy thuốc cao tay, giàu kinh nghiệm có thể dùng biện pháp “xuyên phương” (sử dụng nhiều phương thành một phương tổng hợp) để điều trị tổng thể.

Nếu người thầy thuốc không đủ năng lực về kiến thức y dược để thực hiện phương pháp “biện chứng lập phương” thì có thể dùng các bài thuốc lập thành sẵn có, liệt kê trong sách, thường gọi là các bài thuốc “cổ phương”; hoặc dựa vào bài thuốc kinh nghiệm có sẵn của người khác đã được thông qua nhiều lần điều trị có kết quả; sau đó thêm bớt một số vị thuốc cho phù hợp với thể trạng hiện tại của bệnh nhân (việc thêm bớt phải tránh sự tương ố, tương uý, tương kỵ, tương phản giữa các vị thuốc).

Trong sách Dược lý đã có danh mục “Thập cửu uý”, “Thập bát phản” (tức là 19 cặp vị thuốc sợ nhau và 18 cặp vị thuốc phản nhau). Nếu trong một thang thuốc có các vị tương uý, tương phản thì không có hiệu nghiệm và có thể gây tai biến cho bệnh nhân.

Nếu không có năng lực phân biệt sự tương kỵ, tương phản,… của các vị thuốc thì lập lại nguyên vẹn bài thuốc có sẵn.

2.Vai trò của các vị thuốc trong 1 đơn thuốc đông y

Có 4 vị thuốc đông y quân, thần, tá, sứ, phối hợp các vị thuốc trong một bài thuốc có tác dụng như sau:

  • Giải quyết những triệu chứng chính: đây là những triệu chứng thuộc về nguyên nhân gây bênh, do tạng bệnh chính thể hiện;
  • Giải quyết các triệu chứng phụ: do tạng phủ có quan hệ với tạng phủ bị bênh thể hiện, quan hệ ở đây là biểu lý hoặc ngũ hành.
  • Tăng hoạt tính của vị thuốc chính và đưa các vị thuốc chính đến tạng phủ, kinh lạc của bệnh;
  • Điều hòa các tính năng của vị thuốc.

Vai trò của từng vị thuốc như sau:

  • Chủ dược (quân): đây là vị đầu tiên trong bài thuốc, công dụng để chữa triệu chứng là chính. Ngueyen nhân gây ra bệnh ở đây do bệnh gây ra hay do tạng thể hiện.
  • Phó dược – Thần: đây là vị thuốc có tác dụng bổ trợ cho chủ dược.
  • chữa các triệu chứng phụ, gây ức chế độc tính hoặc tính manhj bạo của chủ dược.
  • Tá – Tá dược: đây là vị thuốc có tác dụng chữa các triệu chứng phụ, gây ức chế độc tính hoặc tính manhj bạo của chủ dược.
  • Dẫn dược – Sứ: đây là vị thuốc để dẫn các vị thuốc khác đi đến thẳng tạng phủ bệnh hoặc có tác dụn điều hòa các vị thuốc khác tính năng.

4 vị thuốc này có nguồn gốc từ chế độ phong kiến xưa, triều đình có vua, quan,.. nên đơn thuốc sẽ chia theo vị chính, vị phụ, vị nào là chủ yếu và vị nào hỗ trợ. Tóm lại, nhóm chữa bệnh chia thành 2 nhóm sau:

  • Chữa triệu chứng bệnh
  • Nhóm đi điều hòa tính năng hoặc/và dẫn kinh cho nhóm chữa triệu chứng bệnh

3.Những yếu tố ảnh hưởng đến vị trí của vị thuốc trong bài thuốc

Trong thực tế điều trị thầy thuốc còn phải chú ý đến những nguyên tắc sau đây để quyết định vị trí của từng vị thuốc trong bài thuốc (Nguyên tắc : Tiêu bản hoãn cấp).

Cấp thì trị Tiêu: Ví dụ: Tiêu chảy ra máu cấp tính do Thấp nhiệt làm bức huyết ở Đại trường thì thuốc nào cầm máu sẽ làm Quân, thuốc nào quy kinh Đại trường mà thanh nhiệt trừ thấp sẽ làm Thần.

Hoãn thì trị Bản: Ví dụ: Thường xuyên đại tiện ra máu do Tỳ dương hư không thống nhiếp huyết, bệnh không cấp tính thì thuốc kiện Tỳ làm Quân, thuốc cầm máu thì làm Thần.

Chú ý đến trạng thái Hư, Thực : Nếu người có bẩm tố dương hư mà cảm mạo thương hàn thì thuốc bổ dương khí làm Quân, mà thuốc phát tán phong hàn sẽ làm Thần.

Chú ý đến phương pháp Khai nạp (Đóng Mở) trong điều trị

  •  Nếu người có chứng âm hư sinh nội nhiệt thì thuốc bổ âm làm Quân và thuốc tiết nhiệt sẽ làm Thần.
  • Hoặc ở bệnh tiêu chảy và tiểu ít thì thuốc cầm tiêu chảy làm Quân và thuốc lợi niệu làm Thần (lợi niệu để chỉ tả)

-Chú ý đến giai đoạn bệnh (dành cho các bệnh truyền nhiễm):

  • Ở giai đoạn khởi phát thì tà khí ở phần Vệ, nên các thuốc có tác dụng phát hãn làm Quân.
  • Ở giai đoạn toàn phát tà khí và chính khí đấu tranh quyết liệt, lúc đó phải giữ vững chính khí trừ tà khí, thì thuốc bổ chính khí làm Quân, thuốc trừ tà khí làm Thần.
  • Ở giai đoạn hồi phục thì chính khí bị hao tổn, do đó thuốc bổ chính khí làm Quân.

4. Sự phối hợp các vị thuốc trong một đơn thuốc

Mục đích của sự phối ngũ các vị thuốc là để tăng tác dụng, tăng hiệu quả các vị chủ dược, để giảm tác dụng phụ, giảm độc tính các vị thuốc nhất là chủ dược, và sau cùng là để tránh làm mất hiệu quả thuốc hoặc làm tăng độc tính.

Những phối ngũ căn bản như sau:

Tương tu: Hai vị thuốc có cùng tác dụng hổ trợ kết quả cho nhau. Ví dụ: Ma hoàng và Quế chi cùng tính vị cay ấm, cùng tính năng phát tán phong hàn

Tương sử: Hai vị thuốc trở lên, tác dụng có khi khác nhau, một thứ chính, một thứ phụ, dùng để nâng cao hiệu quả chữa bệnh. Ví dụ: trong bài Ma hoàng thang có Ma hoàng và Hạnh nhân, Ma hoàng là phát tán phong hàn để tuyên thông Phế khí; Hạnh nhân chữa ho, trừ đờm cũng để tuyên thông Phế khí. Cả hai cùng phối hợp nhau để chữa hen.

-Tương tu và Tương sử được xem như là cách phối hợp để làm hiệu quả điều trị cao hơn . Thường dùng cho các thuốc làm quân, làm thần.

Tương úy: là sử dụng một loại thuốc để làm giảm tác dụng phụ của một vị thuốc khác.

  • Lưu huỳnh úy Phác tiêu.
  • Thủy ngân úy Phê sương.
  • Lang độc úy Mật đà tăng.
  • Ba đậu úy Kiên ngưu.
  • Đinh hương úy Uất kim.
  • Nha tiêu úy Tam lăng.
  • Ô đầu úy Tê giác.
  • Nhâm sâm úy Ngũ linh chi.
  • Nhục quế úy Xích thạch chi

Tương sát: Là sử dụng một loại thuốc để làm giảm độc tính của một số vị thuốc khác. Ví dụ Đậu xanh với Ba đậu.Tương úy và Tương sát thường dùng cho các thuốc làm Tá dược hoặc Sứ dược. Ví dụ Cam thảo trong bài Ma hoàng thang.

Tương ố: Việc sử dụng một loại thuốc này sẽ làm mất tác dụng của một số thuốc khác. Ví dụ Hoàng cầm dùng chung với Sinh khương.

Tương phản: sử dụng một số thuốc sẽ làm tăng độc tính một vị thuốc khác. Ví dụ Ô đầu dùng chung với Bán hạ. Cam thảo dùng chung với Cam toại hoặc Hải tảo hoặc Nguyên hoa (Trong một bài thuốc có các vị tương phản sẽ làm bài thuốc trở nên nguy hiểm có thể gây tử vong…) Tương ố và Tương phản thường để nói lên sự cấm kỵ trong khi kê đơn thuốc.

5. Sự cấm kỵ trong khi dùng thuốc

Sự cấm kỵ trong khi dùng thuốc
Sự cấm kỵ trong khi dùng thuốc

Phụ nữ đang mang thai cấm dùng

  • Ba đậu (tả hạ).
  • Kiên ngưu, Đại kích, Thương lục (trục thủy).
  • Tam thất (hoạt huyết).
  • Xạ hương (phá khí).
  • Nga truật, Thủy điệt, Manh trùng (phá huyết).

Phụ nữ đang mang thai, thận trọng khi dùng:

  • Đào nhân, Hồng hoa (hoạt huyết).
  • Bán hạ, Đại hoàng (tả hạ).
  • Chỉ thực (phá khí).
  • Phụ tử, Can khương, Nhục quế (đại nhiệt).

Các vị thuốc tương phản với nhau

  •  Cam thảo phản Cam toại, Nguyên hoa, Hải tảo.
  • Ô đầu phản Bối mẫu, Bán hạ, Bạch cập, Bạch liễm.
  • Lê lô phản Sâm, Tế tân, Bạch thược.

Cấm kỵ đồ ăn trong khi uống thuốc

  • Cam thảo , Hoàng liên, Cát cánh, Ô mai kiêng thịt lợn.
  • Bạc hà kiêng Ba ba.
  • Phục linh kiêng dấm.
  • Dùng các thuốc ôn trung trừ hàn kiêng đồ ăn sống lạnh.
  • Dùng các thuốc kiện Tỳ tiêu đạo kiêng chất béo, tanh, nhờn.
  • Dùng các thuốc an thần định chí kiêng chất kích thích.

Nguồn tài liệu: thuốc nam Nguyễn Kiều https://thuocnamnguyenkieu.com/