Bệnh viêm da cơ địa

Cách chẩn đoán và điều trị bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến là bệnh da mạn tính khá phổ biến. Tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng cũng đem đến không ít phiền phức, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nhận biết và điều trị đúng cách giúp giảm bớt các đợt bùng phát bệnh, giảm nguy cơ xuất hiện các thể bệnh nặng hơn.

1.Cách chẩn đoán bệnh vảy nến

Cách chẩn đoán bệnh vảy nến
Cách chẩn đoán bệnh vảy nến

Để chẩn đoán bệnh vảy nến cần dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng:

1.1 Dấu hiệu lâm sàng bệnh vảy nến

Tổn thương trên da:

Điển hình là những dát đỏ, phân rõ giới hạn với da lành, trên dát phủ lớp vảy dễ bong. Dát thường có màu đỏ hoặc hồng; số lượng thay đổi; kích thước to nhỏ khác nhau; hình tròn hoặc có hình bầu dục; hoặc hình nhiều vòng cung; ấn kính mất màu, sờ mềm; không đau. Vị trí tổn thương thường ở chỗ tỳ đè, vùng hay bị cọ sát như khuỷu tay, đầu gối, mấu chuyển lớn, mặt duỗi các chi, chỗ bị chấn thương trên da hay vết bỏng, sẹo, vết cào gãi. Tổn thương da có khuynh hướng đối xứng 2 bên. Vảy trên da có đặc điểm là khô, gồm nhiều lớp da chồng lên nhau, dễ bong, màu trắng đục như xà cừ, phủ kín toàn bộ dát đỏ hoặc phủ một phần, thường để lại vùng ngoại vi.

Cạo vảy da theo phương pháp brocq:

Dùng thìa nạo cùng cạo trên tổn thương vảy nến từ vài chục đến hàng trăm lần thì thấy đầu tiên là vảy da bong thành lát mỏng có màu trắng đục. Tiếp tục cạo sẽ thấy một màng mỏng bong ra. Dưới lớp màng bong thì bề mặt đỏ, nhẵn, bóng, có những điểm rớm máu gọi là hạt sương máu.

Tổn thương móng:

Khá hay gặp, chiếm khoảng 30-50% tổng số bệnh nhân vảy nến, thường kèm với thương tổn da ở đầu ngón hoặc rải rác ở toàn thân. Nếu chỉ có thương tổn móng đơn thuần thì khó chẩn đoán, thường phải sinh thiết móng. Thương tổn móng có thể là những chấm lõm ở mặt móng hoặc những vân ngang; móng mất trong, có những đốm trắng hoặc thành viền màu vàng đồng; bong móng ở bờ tự do; dày sừng dưới móng cùng với dày móng và mủn; có thể biến mất toàn bộ móng để lại giường móng bong vảy sừng. Ở vảy nến thể mủ thấy xuất hiện các mụn mủ dưới móng hoặc xung quanh móng.

Thương tổn ở khớp:

Đây là một thể đặc biệt, chiếm khoảng 10-20% tổng số bệnh nhân vảy nến. Biểu hiện là đau các khớp; hạn chế và viêm một khớp; viêm đa khớp vảy nến, biểu hiện khá giống viêm khớp dạng thấp; viêm khớp cột sống vảy nến hiếm gặp hơn so với viêm đa khớp. Thể này rất khó phân biệt với viêm cột sống dính khớp. Trên phim X-quang thấy hiện tượng mất vôi ở đầu xương, hủy hoại sụn, xương, dính khớp.

>>>> Tham khảo thêm: Cách chẩn đoán và điều trị bệnh thoai hoa dot song co

Thương tổn niêm mạc:

Thường gặp ở niêm mạc quy đầu. Đặc điểm tổn thương là những vết màu hồng, không thâm nhiễm, giới hạn rõ, ít hoặc không có vảy, tiến triển mạn tính. Ở lưỡi thương tổn giống viêm lưỡi hình bản đồ hoặc viêm lưỡi phì đại tróc vảy; ở mắt biểu hiện viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm mí mắt. 

1.2 Cận lâm sàng bệnh vảy nến

  • Xét nghiệm bệnh học: Tiến hành xét nghiệm khi hình ảnh và các dấu hiệu lâm sàng không đặc hiệu.
  • Xét nghiệm sinh hóa máu, định lượng canxi máu trong trường hợp vảy nến thể mủ. 

1.3 Chẩn đoán phân biệt bệnh vảy nến

Có một số tổn thương tương tự như vẩy nến một số thể, nên nghi ngờ cần làm các xét nghiệm cận lâm sàng để phân biệt.

  • Giang mai thời kỳ thứ II: Thương tổn cơ bản là các sẩn màu hồng, thâm nhiễm, xung quanh có vảy trắng, cạo vảy theo phương pháp Brocq âm tính. Xét nghiệm tìm xoắn trùng tại thương tổn, phản ứng  huyết thanh giang mai dương tính. 
  • Lupus đỏ kinh: Tổn thương cơ bản là dát đỏ, kèm teo da, vảy da dính khó bong.  
  • Á vảy nến: Tổn thương cơ bản là các sẩn, mảng màu hồng có vảy trắng, cạo vảy có dấu hiệu gắn xi. 
  • Vảy phấn hồng Gibert: Tổn thương cơ bản là mảng da đỏ hình tròn hoặc hình bầu dục, có vảy phấn nổi cao so với trung tâm, rải rác toàn thân. Các vùng đầu, mặt và bàn tay, bàn chân thường không có thương tổn. Bệnh tiến triển tự khỏi trong vòng 4 đến 8 tuần. 
  • Vảy phấn đỏ nang lông: Tổn thương là các sẩn hình chóp màu hồng có vảy phấn, khu trú ở nang lông. Vị trí hay gặp nhất là ở mặt duỗi đốt 2 đốt 3 ngón tay và ngón chân, bụng, chi dưới. 

2. Điều trị bệnh vảy nến như thế nào?

Điều trị bệnh vảy nến như thế nào?
Điều trị bệnh vảy nến như thế nào?

Hiện tại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu của bệnh, nên chưa có biện pháp nào giúp khỏi bệnh hoàn toàn. Điều trị giúp cải thiện các triệu chứng ở giai đoạn cấp tính của bệnh và hỗ trợ duy trì giảm sự tái phát bệnh.

2.1 Điều trị tấn công

Trong giai đoạn cấp của bệnh, điều trị bằng các thuốc nhằm giảm và mất các tổn thương.

Các thuốc được lựa chọn có tác dụng như chống viêm, bạt sừng bong vảy…

Thường dùng thuốc có tác dụng tại chỗ, khi cần thiết mới dùng các thuốc điều trị toàn thân. Đặc biệt là corticoid chỉ nên dùng tại chỗ, vì nếu dùng toàn thân nhất là kéo dài có thể gây biến chứng nguy hiểm. Đặc biệt gây đỏ da toàn thân, vảy nến thể mủ.

2.2 Điều trị giai đoạn duy trì

Điều trị giai đoạn duy trì
Điều trị giai đoạn duy trì

Mục đích duy trì sự ổn định, giữ cho bệnh không bùng phát hoặc kéo dài thời gian bùng phát bệnh. 

Bệnh vảy nến tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng đem đến không ít phiền phức. Đặc biệt nếu điều trị sai không đúng còn làm cho bệnh nặng thêm và việc điều trị trở nên khó khăn. Không nên uống thuốc khi chưa được sự tư vấn của bác sĩ.

>>> Xem thêm: Điều trị bệnh vảy nến bằng thuốc đông y như thế nào?

Nguồn tài liệu : Phòng khám đông y cổ truyền Hà Nội https://thuocnamnguyenkieu.com/

Tags: